Mỗi năm, ngành nông nghiệp trong nước chỉ có thể cung cấp 4 triệu tấn cám, 4 triệu tấn sắn làm TACN, trong khi nhu cầu cần tới 27 triệu tấn các loại nên lượng nhu cầu còn lại chiếm 70-80% phải nhập khẩu, nhất là các mặt hàng ngô, lúa mì, đỗ tương.
Bột gan mực nguyên liệu thức ăn chăn nuôi : Bột Gan Mực một loại nguyên liệu được sử dụng rộng rãi trong ngành chế biến thức ăn chăn nuôi gia súc, gia cầm, thủy cầm. Có màu đỏ đậm,mùi đặc trưng. Bột Gan Mực là sản phẩm được dùng nhiều trong chế biến thức ăn thủy sản.
Vị trí Nhân Viên Xuất Nhập Khẩu Kiêm Kinh Doanh Nguyên Liệu Thức Ăn Chăn Nuôi tuyển dụng bởi công ty Công ty CP nông sản Phú Gia tại Hà Nội, Nam Từ Liêm, Hồ Chí Minh, Quận 1, Cần Thơ, Ninh Kiều, Long An, Tân An, Bình Dương, Thủ Dầu Một, Đồng Nai, Biên Hoà với mức lương Thoả thuận yêu cầu hình thức làm việc
Bên cạnh đó, nhập khẩu thức ăn chăn nuôi từ EU quý I/2021 cũng tăng mạnh 105% so với quý 1/2020, đạt 110,56 triệu USD. Nhập từ thị trường Đông Nam Á tăng 18,3%, đạt 84,48 triệu USD. Nguyên nhân trực tiếp khiến nhập khẩu thức ăn chăn nuôi do giá nguyên liệu mặt hàng này đã
12:00 | 24/09/2013 Trong 8 tháng đầu năm 2013, Việt Nam đã chi 2,09 tỉ USD nhập khẩu thức ăn chăn nuôi thô, tăng 41,1% so với cùng kỳ năm ngoái. Nhập khẩu chính là ngô (1,34 triệu tấn) và đậu tương (897.000 tấn). Vật liệu chủ yếu có nguồn gốc từ Argentina (25,6%), Ấn Độ (14,6%), Mỹ (14,5%), tiếp theo là Italia, Thái Lan và Trung Quốc.
Tình hình xuất khẩu cá tra file ổn định hơn đã tác động tích cực đến việc sản xuất và tiêu thụ thức ăn cho thủy sản của công ty. Sản lượng tiêu thụ đạt 410.090 tấn, tăng 8,4% so với thực hiện năm 2013. Doanh thu thuần tăng 10,6% so với năm trước, đạt 4.422 tỷ đồng. Lợi nhuận sau thuế đạt 154,17 tỷ đồng, tương đương 122,1% so với thực hiện năm 2013.
Nhập Khẩu Nguyên Liệu Thức Ăn Chăn Nuôi Có Nguồn Gốc Từ Thực Vật Các lọai thức ăn chăn nuôi Là một nước mà nông nghiệp còn chiếm tỉ [] 28 Th8 TIN TỨC NỔI BẬT Thủ tục xuất khẩu sang Qatar ( Ả Rập) DỊCH VỤ VẬN CHUYỂN ĐƯỜNG BIỂN GIÁ TỐT Eimskip tham dự sự kiện dự án Kho lạnh Long An từ Transimex KỶ NIỆM 15 NĂM THÀNH LẬP EIMSKIP VIỆT NAM
mU6T3s. Trong năm 2022, có 916 doanh nghiệp tham gia nhập khẩu mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi về Việt Nam, giảm 17 doanh nghiệp so với năm 2021. Trong đó, doanh nghiệp nhập khẩu đạt kim ngạch cao nhất là Công ty Cổ Phần Chăn Nuôi Việt Nam, với 409 triệu USD; tiếp đến là Công ty Cổ phần Khai Anh – Bình Thuận đạt 344,9 triệu USD; Công ty TNHH Cargill Việt Nam với 292 triệu USD… KHÔ ĐẬU TƯƠNG CHIẾM MỘT NỬA TRONG TỔNG NGUYÊN LIỆU NHẬP KHẨU Trong năm 2022, Việt Nam nhập khẩu 39 chủng loại thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu, giảm 2 chủng loại so với năm 2021. Lượng nhập khẩu một số chủng loại chính tăng mạnh so với năm 2021 như Bột thịt xương, bột gia cầm, bột huyết tương, bột tôm, cám ngô, khô dầu dừa… Trong khi đó, lượng nhập khẩu một số chủng loại chính giảm so với năm 2021 như khô đậu tương, khô dầu cọ, bột cá, cám gạo, cám mỳ… Giá nhập khẩu trung bình nhiều mặt hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong năm 2022 hầu hết tăng so với năm 2021. Một số mặt hàng có mức tăng dưới 10% như Khô hướng dương, khô dầu cọ, khô dầu dừa, khô hạt cải, bột gan mực… Những chủng loại mặt hàng có giá nhập khẩu tăng từ 10% đến trên 20% gồm Khô đậu tương, khô dầu lạc, bột thịt xương, bột gia cầm, bột cá, bột bánh mỳ, cám ngô, cám gạo, cám mỳ, bột huyết tương, bột lông vũ… "Năm 2022, những chủng loại mặt hàng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi có giá nhập khẩu tăng từ 10% đến 20% gồm Khô đậu tương, khô dầu lạc, bột thịt xương, bột gia cầm, bột cá, bột bánh mỳ, cám ngô… Một số mặt hàng giá nhập khẩu tăng trên 20% là cám gạo, cám mỳ, bột huyết tương, bột lông vũ…" Theo Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại của Bộ Công thương. Riêng khô đậu tương chiếm 48,5% về lượng và 50,1% về trị giá trong tổng nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu trong năm vừa qua. Khối lượng khô đậu tượng nhập khẩu về Việt Nam trong năm 2022 đạt 5,01 triệu tấn, trị giá 2,81 tỷ USD, giảm 0,3% về lượng nhưng tăng 12% về trị giá so với năm 2021. Nguồn cung cấp chính khô đậu tương là Nam Mỹ và Hoa Kỳ. Giá nhập khẩu trung bình khô đậu tương trong năm 2022 ở mức 560 USD/tấn, tăng 12,3% so với năm 2021. Lượng khô dầu cọ nhập khẩu trong năm 2022 đạt 591,9 nghìn tấn, trị giá 122,3 triệu USD, giảm 9,1% về lượng và giảm 1,2% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu khô dầu cọ trong năm 2022 đạt 207 USD/tấn, tăng 8,7% so với năm 2021. Khối lượng nhập khẩu khô hạt cải trong năm 2022 đạt 276,4 nghìn tấn, trị giá 102,7 triệu USD, giảm 4,5% về lượng và giảm 0,1% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình mặt hàng này trong năm 2022 đạt 371 USD/tấn, tăng 4,6% so với năm 2021. Đối với cám ngô, trong năm 2022 nước ta nhập khẩu 174,8 nghìn tấn, trị giá 51,3 triệu USD, tăng 21,5% về lượng và tăng 35,1% về trị giá so với năm 2021. Giá trung bình cám ngô nhập khẩu về Việt Nam trong năm 2022 đạt 293 USD/tấn, tăng 11,1% so với năm 2021. Trong năm 2022, nhập khẩu cám mỳ đạt 391,4 nghìn tấn, giảm 15,3% so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình cám mỳ năm 2022 ở mức 276 USD/tấn, tăng 21,1% so với 2021. Trong năm 2022, lượng nhập khẩu cám gạo về Việt Nam đạt 542,9 nghìn tấn, trị giá 118,2 triệu USD, giảm 4,3% về lượng, nhưng tăng 15,3% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình cám gạo trong năm 2022 ở mức 218 USD/tấn, tăng 20,5% so năm 2021. Với nhóm bột protein động vật, trong năm 2022, nhập khẩu bột thịt xương về Việt Nam đạt 787 nghìn tấn, trị giá 433,7 triệu USD, tăng 18,2% về lượng và tăng 32,7% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình bột thịt xương trong năm 2022 ở mức 551 USD/tấn, tăng 12,3% so với năm 2021. Nguồn cung cấp bột thịt xương là Mỹ và EU. Nhập khẩu bột gia cầm trong năm 2022 đạt 238,3 nghìn tấn, trị giá 227,7 triệu USD, tăng 16,3% về lượng và tăng 28,8% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình bột gia cầm trong năm 2022 ở mức 956 USD/tấn, tăng 10,7% so với năm 2021. Nhập khẩu bột cá trong năm 2022 đạt 129,7 nghìn tấn, giảm 4,7% so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình bột cá trong năm 2022 ở mức USD/tấn, tăng 18,4% so với năm 2021. Đối với nhóm Protein tổng hợp, trong năm 2022, lượng nhập khẩu dinh dưỡng gia súc đạt 1,4 triệu tấn, trị giá 521,1 triệu USD, tăng 0,2% về lượng và tăng 19,1% về trị giá so với năm 2021. Giá nhập khẩu trung bình dinh dưỡng gia súc trong năm 2022 ở mức 373 USD/tấn, tăng 18,9% so với năm 2021. Ngoài ra, nhóm chất tổng hợp và bổ trợ nhập khẩu 548,4 triệu USD, tăng 0,3% so với năm 2021. NỖ LỰC GIẢM NHẬP KHẨU Trong năm 2022, Việt Nam nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ 98 quốc gia, tăng 11 quốc gia so với năm 2021. Trong đó, Achentina là nước cung cấp thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu lớn nhất cho Việt Nam trong năm 2022, đạt 3,01 triệu tấn, trị giá 1,67 tỷ USD, giảm 8,2% so với năm 2021 và chiếm 29,2% về lượng và chiếm tỷ trọng 30,4% trong tổng nhập khẩu của toàn bộ nhóm mặt hàng này. Mặt hàng nhập khẩu chính từ Achentina là khô đậu tương, dinh dưỡng gia súc, bột thịt xương, bột lông vũ… Nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu từ Achentina trong năm 2023 dự báo đạt 3,2 triệu tấn, trị giá 1,6 tỷ USD. Braxin là nước cung cấp thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu lớn thứ 2 cho Việt Nam trong năm 2022 với lượng và trị giá tăng mạnh, đạt 1,77 triệu tấn, trị giá 1,03 tỷ USD, tăng 41,4% về lượng và tăng 56,9% về trị giá so với năm 2021. Nhập khẩu từ nước này chiếm 17,2% về lượng và 18,7% về trị giá trong nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu của Việt Nam. Mặt hàng nhập khẩu chính từ Braxin là khô đậu tương, bột gia cầm, bột lông vũ… Trong buổi làm việc giữa lãnh đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn với các nông dân chăn nuôi tại Đồng Nai mới đây, các chủ trang trại đều phản ánh tình trạng giá thức ăn chăn nuôi quá cao, trong khi giá thịt lợn hơi đang giảm, khiến chăn nuôi đang bị thua lỗ. Theo bà Nguyễn Thị Hương, Giám đốc Công ty TNHH MTV Hương Vĩnh Cửu, giá thành heo hơi trong nước hiện khoảng đồng/kg, bằng giá thịt heo nhập khẩu đã pha lóc như cốt-lết, nạc vai... nên rất khó cạnh tranh. “Lượng nhập khẩu khô đậu tương về Việt Nam trong năm 2023 dự báo tương đương năm 2022, trị giá 2,7 tỷ USD do giá nhập khẩu giảm so với năm 2022. Lượng nhập khẩu dinh dưỡng gia súc nhập khẩu về Việt Nam trong năm 2023 dự báo đạt khoảng 1,5 triệu tấn, với giá nhập khẩu trung bình 365- 370 USD/tấn”. Ông Dương Tất Thắng, Cục trưởng Cục Chăn nuôi - Bộ Nong nghiệp và Phát triển nông thôn. Chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người chăn nuôi, ông Dương Tất Thắng - Cục trưởng Cục Chăn nuôi Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho rằng không riêng ở Việt Nam, mà giá heo hơi các nước cũng giảm, thậm chí mức giảm mạnh hơn Việt Nam. Chẳng hạn, ở Trung Quốc, giá heo hơi hồi tháng 10/2022 là đồng/kg, nay còn đồng/kg, dù nước này đã mở cửa trở lại. "Sang quý 2/2023, giá thức ăn chăn nuôi của Việt Nam sẽ giảm, phần nào gỡ khó cho hộ nuôi gia súc, gia cầm", ông Dương Tất Thắng nhận định, đồng thời cho biết hiện nay, hầu hết thuế nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam đã được đưa về 0%; chỉ còn riêng mặt hàng khô dầu đậu tương còn chịu mức thuế 2% và đang được kiến nghị đưa về 0%. Trong khi giá nhập khẩu một số chủng loại nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi đã giảm so với năm 2022 như đậu tương, lúa mỳ, ngô… Theo Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Phùng Đức Tiến, ngành nông nghiệp đã có chỉ đạo quyết liệt trong việc phát triển vùng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi tại Tây Nguyên bắp, khoai mì để giảm phụ thuộc vào nhập khẩu. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý đã tích cực hỗ trợ doanh nghiệp các thủ tục xuất khẩu. Mới đây, Công ty CP Ba Huân đã xuất khẩu thành công trứng gà tươi sang Hồng Kông - Trung Quốc với khối lượng 1 container/tuần. “Để nâng cao năng lực cạnh tranh, người chăn nuôi phải liên kết, đầu tư sản xuất cho khâu giống; phương thức chăn nuôi cũng phải thay đổi, tiếp cận công nghệ mới khép kín, tự động hóa; xử lý được vấn đề môi trường. Ngành chăn nuôi cũng phải quan tâm đầu tư sơ chế, chế biến, đa dạng hóa sản phẩm gắn với chuỗi phân phối để đáp ứng tốt nhu cầu thị trường”, Thứ trưởng Phùng Đức Tiến khuyến cáo.
Văn phòng Chính phủ vừa có thông báo gửi Bộ Tài chính liên quan đến kiến nghị của Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam về việc giảm thuế nhập khẩu khô đậu tương từ 2% xuống 0% để hỗ trợ ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi Việt Nam. Phó thủ tướng Lê Minh Khái chỉ đạo xem xét, kiến nghị giảm thuế nhập khẩu khô dầu đậu tương từ 2% xuống 0% để hỗ trợ ngành chăn nuôi - Ảnh kiến nghị của Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam giảm thuế nhập khẩu khô dầu đậu tương từ 2% xuống 0% để hỗ trợ ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi và chăn nuôi Việt Nam, theo chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính, Phó thủ tướng Lê Minh Khái đã có ý kiến chỉ thể, Bộ Tài chính chủ trì với các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, xem xét, xử lý kiến nghị của hiệp hội trong sửa đổi các văn bản liên quan về thuế nhập khẩu, trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định theo quy định pháp đó, gần cuối tháng 2, Hiệp hội Thức ăn chăn nuôi Việt Nam có văn bản kiến nghị giảm thuế nhập khẩu khô dầu đậu tương. Theo hiệp hội, từ cuối tháng 12-2021, thuế nhập khẩu lúa mì từ 3% đã xuống còn 0%; ngô giảm từ 5% xuống còn 2%. Trong khi đó khô đậu tương là mặt hàng có giá thành cao, là nguyên liệu chính trong công thức sản xuất cám heo và thủy sản nhưng vẫn giữ mức thuế nhập khẩu 2%. Điều này gây áp lực lên chi phí sản xuất thức ăn chăn theo hiệp hội này, nếu vẫn giữ mức thuế nhập khẩu 2% với khô dầu đậu tương sẽ đẩy giá thức ăn chăn nuôi cao kỷ lục và dẫn đến các vấn đề khi đó, giảm thuế nhập khẩu sẽ nâng tính cạnh tranh của ngành trong nước so với các nước trong khu vực, thế giới; kiểm soát lạm phát, đảm bảo đời sống nhân dân; không làm ảnh hưởng tới thu ngân sách nhưng giúp tăng thu ngân sách do doanh nghiệp hoạt động trở lại, sản phẩm được tiêu thụ… Trở thành người đầu tiên tặng sao cho bài viết 0 0 0 Chuyển sao tặng cho thành viên x1 x5 x10 Hoặc nhập số sao
Danh sách Top 10 công ty Thức ăn chăn nuôi uy tín năm 2021 Nguồn Vietnam Report, Top 10 Công ty Thức ăn chăn nuôi uy tín năm 2021, tháng 12/2021 Chăn nuôi là một trong những ngành kinh tế quan trọng, nhiều tiềm năng của Việt Nam, đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045. Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi TACN công nghiệp ở Việt Nam cũng đã tăng trưởng ngoạn mục, đạt bình quân từ 13%-15%/năm. Tổng sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp từ 10,8 triệu tấn năm 2010 đã tăng lên gần gấp đôi vào năm 2020, đạt 20,3 triệu tấn. Việt Nam trở thành quốc gia đứng thứ 10 thế giới và số 1 khu vực Đông Nam Á về sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp, xếp trên cả Thái Lan và Indonesia. Với tiềm năng phát triển cao, ngành TACN của Việt Nam đã thu hút nhiều doanh nghiệp gia nhập ngành, nhất là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đang không ngừng mở rộng quy mô, tạo ra cuộc cạnh tranh khốc liệt trong ngành. Đánh giá tác động của đại dịch Covid-19 đến tình hình kinh doanh của doanh nghiệp ngành TACN trong năm 2021 Mặc dù ngành thức ăn chăn nuôi không bị ảnh hưởng nặng nề như một số ngành khác do tác động của đại dịch, nhưng vẫn chịu tác động trên cả khía cạnh cung và cầu. Trước tác động của dịch bệnh đã ảnh hưởng đến nhu cầu tiêu thụ thực phẩm tại các bếp ăn công nghiệp, hay trường học, nhà hàng, khách sạn giảm cũng làm cho giá đầu ra của sản phẩm chăn nuôi giảm tương đối sâu, không chỉ gây thiệt hại nặng nề cho người chăn nuôi, mà còn khiến những đại lý kinh doanh thức ăn gia súc, doanh nghiệp sản xuất thức ăn gặp nhiều khó khăn. Ở phía đầu vào, cũng do ảnh hưởng của dịch Covid-19, nhiều doanh nghiệp sản xuất TACN rơi vào tình trạng thiếu nguyên liệu bởi ngành vận tải biển và đường bộ gặp khó khăn ở khâu kiểm soát dịch bệnh khắt khe tại các nước xuất khẩu, chi phí vận chuyển tăng tương đối nhiều dẫn đến chi phí nguyên liệu TACN tăng từ 20%-30%, làm giá thành TACN cũng tăng theo đó. Tại Việt Nam chi phí thức ăn chiếm khoảng từ 80-85% giá thành chăn nuôi, trong khi nguồn cung thức ăn chăn nuôi lại phụ thuộc phần lớn từ nhập khẩu, lên đến 70-80% với các mặt hàng ngô, lúa mì, đậu tương. Tuy chịu tác động của đại dịch Covid-19 nhưng trong 10 tháng năm 2021 kim ngạch nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu vẫn tiếp tục gia tăng và đã đạt gần 4,14 tỷ USD, tăng 29% so với cùng kỳ năm 2020. Hình 1 Giá trị xuất nhập khẩu TACN và nguyên liệu các năm Nguồn Tổng cục Thống kê Ngoài ra, các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi phải chi nhiều hơn cho các biện pháp phòng chống dịch bệnh để đảm bảo an toàn cho nhân viên và hoạt động của họ như chi phí xét nghiệm Covid-19, thực hiện phương án 3 tại chỗ, hỗ trợ người lao động nằm trong khu cách ly, khu phong tỏa, chi phí tăng ca do thiếu hụt lao động Trước những áp lực gia tăng chi phí trong khi giá sản phẩm bán ra không tăng tương ứng đã tác động tiêu cực đến lợi nhuận của các doanh nghiệp TACN. Kết quả khảo sát của Vietnam Report với doanh nghiệp về tác động của đại dịch Covid-19 đến ngành TACN đã ghi nhận 85,71% doanh nghiệp đánh giá tình hình kinh doanh bị xấu đi một chút. Để vượt qua giai đoạn khó khăn này, các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi đã tái cơ cấu hoạt động, nỗ lực duy trì hoạt động kinh doanh để cung cấp cho người chăn nuôi những sản phẩm chất lượng và tiến lên phía trước. Đánh giá uy tín truyền thông của các doanh nghiệp ngành TACN Top 10 chủ đề xuất hiện trên truyền thông năm nay có sự thay đổi với việc bổ sung thêm chủ đề Đầu tư, các chủ đề Hình ảnh/Pr/Scandal, Sản phẩm, Chiến lược kinh doanh/M&A đều có sự tăng tần suất thông tin so với thời gian nghiên cứu của năm 2020. Điều này cho thấy rõ những dấu ấn nổi bật của ngành TACN qua lăng kính truyền thông. Trong bối cảnh đại dịch Covid-19 diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng tới nền sản xuất của nhiều nước trên thế giới, nhiều doanh nghiệp trong nước đang loay hoay thoát khỏi khủng hoảng nguyên liệu, duy trì sản xuất thì một số doanh nghiệp nước ngoài vẫn tiếp tục xây dựng thêm nhà máy để tăng sản lượng. Các hoạt động mua bán và sáp nhập, quan hệ hợp tác của các công ty trong và ngoài nước được thúc đẩy bởi nhu cầu vẫn diễn ra mạnh mẽ, và điều này không hề chậm lại trong thời kỳ đại dịch. Hình ảnh các doanh nghiệp trong ngành TACN chung tay cùng Chính phủ trong cuộc chiến đẩy lùi dịch bệnh Covid, khắc phục hậu quả bão lũ đã giúp cho nhóm chủ đề Hình ảnh/Pr/Scandal vươn lên vị trí dẫn đầu về tần suất xuất hiện. Xét về tin tích cực – tiêu cực theo chủ đề 7 trong 10 chủ đề ở trên có tỷ lệ tin tiêu cực giảm xuống so với thời gian nghiên cứu của năm 2020, bao gồm Hình ảnh/PR/Scandal; Sản phẩm; Chiến lược kinh doanh/M&A; Cổ phiếu; Vị thế thị trường; Đầu tư; Quản trị. Chủ đề Tài chính/Kết quả kinh doanh có tỷ lệ tin tiêu cực cao nhất với 20,65%. Hình 2 Top 10 chủ đề xuất nhiều nhất trên truyền thông Nguồn Vietnam Report, Dữ liệu Media Coding ngành Thức ăn chăn nuôi từ tháng 10/2020 đến tháng 10/2021 Xét tỷ lệ tin tích cực theo tháng từ tháng 10/2019 đến tháng 10/2021 có sự biến động rất nhiều giữa các tháng, nhất là các thời điểm bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid, dịch tả Châu Phi, như trong năm 2021 là các tháng 7, 8 thực hiện giãn cách xã hội và tháng 10 là thời gian công bố báo cáo tài chính quý 3. Hình 3 Tỷ lệ tin tích cực – tiêu cực theo tháng Nguồn Vietnam Report, Dữ liệu Media Coding ngành Thức ăn chăn nuôi từ tháng 10/2019 đến tháng 10/2021 Về chất lượng thông tin, doanh nghiệp được đánh giá là "an toàn" khi đạt tỷ lệ chênh lệch thông tin tích cực và tiêu cực so với tổng lượng thông tin được mã hóa ở mức 10%, tuy nhiên ngưỡng “tốt nhất” là trên 20%. Tỷ lệ số doanh nghiệp có thông tin mã hóa, đạt ngưỡng trên 20% là 78,57%, một tỷ lệ rất cao và vượt so với mức 66,7% trong giai đoạn nghiên cứu của năm trước. Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp TACN Khi đánh giá ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thức ăn chăn nuôi, Vietnam Report sử dụng mô hình thang Li-kert 5 điểm. Kết quả khảo sát của năm trước chỉ ra cạnh tranh thị phần giữa các doanh nghiệp là yếu tố ảnh hưởng nhất đến tình hình hoạt động của doanh nghiệp TACN trong thời kỳ bình thường tiếp theo, nhưng trong khảo sát của Vietnam Report được thực hiện vào tháng 11 năm nay, yếu tố diễn biến dịch bệnh, khí hậu; biến động giá nguyên vật liệu đầu vào; khả năng hồi phục của nền kinh tế là ba yếu tố ảnh hướng nhất; tiếp sau đó mới là yếu tố cạnh tranh thị phần. Không chỉ đại dịch Covid-19, dịch tả lợn Châu Phi cũng là mối đe dọa tiềm tàng khiến các cơ quan chính phủ, người chăn nuôi lợn và tất cả các bên liên quan trong ngành lo ngại trong năm 2022. Hình 4 Đánh giá ảnh hưởng của yếu tố bên ngoài đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp TACN Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 và tháng 10/2020 Việc tăng giá thức ăn chăn nuôi thời gian qua là do nguồn cung nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trên thế giới giảm, nguồn cung trong nước hạn chế, chi phí vận chuyển tăng cộng thêm ảnh hưởng của biến đổi khí hậu khiến sản lượng một số loại ngũ cốc chính của một số quốc gia sụt giảm. Biến đổi khí hậu đã làm một số nước là đối tác cung cấp nguyên liệu TACN chính cho Việt Nam như Mỹ, Argentina, Brazil, bị khô hạn nên diện tích ngô, lúa mì, đậu tương phải thu hẹp làm ảnh hưởng đến năng suất, sản lượng và giá. Theo Tổng cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong tháng 10/2021 đạt 819 nghìn tấn ngô, giảm 15% về lượng và tăng 21% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Thời tiết khắc nghiệt và những rủi ro do biến đổi khí hậu không thể đoán trước tạo ra thách thức với sự phát triển của cây trồng nguyên liệu và sức khỏe vật nuôi, đồng thời đặt ra những yêu cầu cho doanh nghiệp trong chuỗi chăn nuôi cần phải tăng cường sự chú trọng vào sản xuất nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường trong năm tới. Đánh giá sự cạnh tranh trong ngành TACN theo mô hình 5 áp lực cạnh tranh của Michael Porter cho thấy áp lực cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong ngành là cao nhất; các áp lực về đối thủ cạnh tranh tiềm năng, khả năng thương lượng của nhà cung ứng, khả năng thương lượng của khách hàng mức trung bình và sự đe dọa từ sản phẩm thay thế chỉ ở mức thấp. Theo dữ liệu của Cục chăn nuôi tính đến tháng 7/2021, ngành TACN có 265 doanh nghiệp, khối FDI có 89 doanh nghiệp, khối doanh nghiệp trong nước có 176 doanh nghiệp, nhưng sản lượng của doanh nghiệp FDI trong năm 2020 chiếm 59,8% và doanh nghiệp trong nước chiếm 40,2%. Các doanh nghiệp FDI không chỉ vượt trội về thị phần mà hầu hết đều có chiến lược kinh doanh bài bản với chuỗi sản xuất kinh doanh khép kín và nguồn lực tài chính mạnh. Điều này thúc đẩy những doanh nghiệp không đi theo hướng chiến lược xây dựng và vận hành trang trại phải xem xét chiến lược khác và cần đầu tư về công nghệ, cải tiến kỹ thuật và năng suất để có thể nâng cao năng lực cạnh tranh, giành lại thị phần. Hình 5 Đánh giá 5 áp lực cạnh tranh với ngành TACN của Việt Nam Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành TACN, tháng 11 năm 2021 Những thách thức của ngành thức ăn chăn nuôi trong thời kỳ bình thường tiếp theo dưới tác động của đại dịch Mặc dù ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi đã được chứng minh là có khả năng chống chọi khá tốt trong cuộc khủng hoảng Covid-19 so với các ngành kinh tế khác, nhưng đại dịch hiện nay vẫn đang lan rộng và nguy cơ bùng phát các đại dịch khác sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến ngành thức ăn chăn nuôi vào năm 2022. Trong suốt chuỗi giá trị, các bên liên quan trong ngành thức ăn chăn nuôi phải thực hiện các thủ tục, đào tạo và trang thiết bị để bảo vệ nhân viên và ngăn chặn sự lây lan của vi rút, cũng như duy trì mức độ sản xuất và dịch vụ của họ. Vào đỉnh điểm của đại dịch Covid-19, tất cả các ngành công nghiệp trên toàn thế giới đều phải trải qua những tác động của chuỗi cung ứng vô cùng thách thức. Sự tắc nghẽn của chuỗi cung ứng toàn cầu đã dẫn đến chi phí nguyên liệu và phụ gia thức ăn chăn nuôi cao, điều này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngành thức ăn chăn nuôi trong năm mới. Kết quả đánh giá từ chuyên gia và doanh nghiệp của Vietnam Report về những thách thức đối với ngành TACN do tác động của đại dịch trong năm 2022 đã chỉ ra 4 thách thức lớn nhất là i Đứt gãy chuỗi cung ứng trong sản xuất, kinh doanh; ii Sự leo thang trong chi phí nguyên liệu; iii Thay đổi thói quen người tiêu dùng; iv Chi phí cho lưu thông, vận chuyển hàng hóa. Hình 6 Đánh giá những thách thức đối với ngành TACN do tác động của đại dịch Covid-19 trong năm 2022 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 Covid-19 đã tác động đến nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng, làm tăng sự quan tâm của người tiêu dùng đối với chuỗi cung ứng thực phẩm, người tiêu dùng ngày càng có mong muốn về sự minh bạch của nguồn gốc thực phẩm và cách sản xuất thịt, sữa và trứng của họ. Điều này sẽ dẫn đến nhu cầu tăng lên đối với sản xuất bền vững, phúc lợi động vật và không có kháng sinh cho động vật, từ đó thúc đẩy các doanh nghiệp phải nghiên cứu, cải tiến sản phẩm thức ăn chăn nuôi như việc gia tăng các thành phần và phụ gia thức ăn chăn nuôi chất lượng cao. Ngoài ra, sự thay đổi ngày càng tăng đối với việc áp dụng chế độ ăn thuần chay dự kiến sẽ cản trở sự tăng trưởng của thị trường thức ăn chăn nuôi trong giai đoạn dự báo và những năm sắp tới. Triển vọng ngành Thức ăn chăn nuôi Theo đánh giá của doanh nghiệp TACN trong khảo sát của Vietnam Report, việc ứng phó với dịch của Chính phủ là sống chung với Covid là phù hợp, giúp cho chi phí sản xuất của doanh nghiệp sẽ giảm xuống, các nhà hàng, bếp ăn, các nhà máy sản xuất hoạt động trở lại, nhu cầu thực phẩm sẽ tăng lên, và ngành TACN cũng có triển vọng tốt hơn. Bên cạnh đó, vấn đề kiểm soát ảnh hưởng rất nhiều giá TACN, khi nhiều quốc gia xác định sống chung, các nước nới lỏng vấn đề quản lý, giúp cho chi phí vận tải biển giảm xuống và khi dịch được kiểm soát tốt hơn thì ngành TACN cũng có triển vọng tốt hơn. Theo định hướng phát triển của Bộ Nông nghiệp và PTNT, năm 2022, giá trị sản xuất ngành chăn nuôi tăng khoảng 5,5-6,0%; sản lượng thức ăn chăn nuôi công nghiệp quy đổi 22,5 triệu tấn. Kết quả khảo sát của Vietnam Report về triển vọng của ngành TACN trong năm tới, đã ghi nhận 57,1% doanh nghiệp đánh giá tăng trưởng khả quan, tốt hơn một chút; 14,29% đánh giá duy trì tốc độ tăng trưởng và 28,57% đánh giá tăng trưởng sẽ thấp hơn một chút do những lo ngại về đại dịch Covid-19 vẫn tiếp tục gây ra nhiều khó khăn đối với ngành chăn nuôi, chi phí sản xuất thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, giá sản phẩm chăn nuôi bán ra vẫn ở mức thấp có khả năng hạn chế tăng trưởng sản xuất, mở rộng tái đàn. Hình 7 Đánh giá tiềm năng tăng trưởng của ngành TACN trong năm 2022 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 Trong trung và dài hạn, ngành chăn nuôi vẫn được đánh giá là có nhiều triển vọng phát triển. Theo dữ liệu của FAO, sản lượng thịt toàn cầu được dự đoán sẽ cao hơn 16% vào năm 2025. Nhu cầu gia tăng đối với thịt và các sản phẩm làm từ động vật cùng với sự gia tăng sản xuất chăn nuôi thương mại, chế biến thức ăn nhanh là những yếu tố chính thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường. Việc tiêu thụ các sản phẩm chăn nuôi ngày càng cao do người dân quan tâm nhiều hơn đến sức khỏe dinh dưỡng của vật nuôi cũng là một trong những yếu tố thúc đẩy sự tăng trưởng của thị trường chế biến thức ăn chăn nuôi. Theo dự báo của Mordor Intelligence, thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam dự kiến đạt tốc độ CAGR là 4,6% trong giai đoạn dự báo 2021-2026. Ngoài ra, sự tăng trưởng mạnh trên thị trường thức ăn chăn nuôi trong thời gian tới sẽ được thúc đẩy bởi chiến lược tăng trưởng của các công ty lớn dưới hình thức mở rộng và đầu tư, tăng tốc sản xuất thức ăn chăn nuôi để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng ngày càng tăng để đa dạng danh mục sản phẩm và tiếp cận được các thị trường mục tiêu mới. Thêm vào đó, tỷ lệ các hộ chăn nuôi chuyển đổi từ chăn nuôi hình thức nhỏ lẻ sang chăn nuôi có tổ chức theo quy mô trang trại ngày càng tăng được kỳ vọng sẽ tiếp tục thúc đẩy cơ hội tăng trưởng thị trường thức ăn chăn nuôi trong những năm tới. Top 4 xu hướng của ngành TACN trong thời kỳ bình thường tiếp theo Chú trọng hơn việc sử dụng nguyên liệu, phụ gia thức ăn cho mục tiêu giảm khí thải và ứng phó biến đổi khí hiệu một cách bền vững Ngành chăn nuôi cũng được coi là có tỷ trọng đáng kể trong lượng khí thải carbon. Nguyên liệu, phụ gia thức ăn chăn nuôi có thể đóng góp hiệu quả vào việc giảm phát thải khí mê-tan và khí thải carbon. Thông qua đánh giá tác động của vòng đời sản phẩm các nhà khoa học đã chứng minh rằng những thành phần này có thể hỗ trợ tích cực cho việc giảm thiểu tác hại của môi trường đối với hoạt động chăn nuôi theo những cách khác nhau. Dự án Tính bền vững phụ gia thức ăn chăn nuôi do Hiệp hội thương mại của Liên minh Châu Âu về ngành công nghiệp phụ gia thức ăn chăn nuôi FEFANA và Liên đoàn Thức ăn Chăn nuôi Quốc tế IFIF thực hiện, đã nghiên cứu những ảnh hưởng này đối với nhiều loại nguyên liệu thức ăn. Nghiên cứu đã chứng minh rằng việc sử dụng các thành phần như vậy có thể cắt giảm tới 15% khả năng nóng lên toàn cầu, phát thải phốt pho lên đến 30% và phát thải nitơ lên đến 50%. Điều này có nghĩa là giảm đáng kể các tác động liên quan đến phát thải đối với môi trường, chẳng hạn như giảm bài tiết các chất dinh dưỡng dư thừa, và axit hóa. Do đó, trong thời gian tới, các doanh nghiệp sản xuất TACN sẽ chú trọng hơn việc sử dụng các thành phần nguyên liệu và phụ gia trong thức ăn để góp phần thực hiện mục tiêu giảm khí thải và ứng phó biến đổi khí hậu một cách bền vững theo Tuyên bố COP-26 gần đây của Chính phủ Việt Nam, đặt mục tiêu giảm lượng khí thải carbon vào năm 2050. Phân khúc gia cầm tiếp tục chiếm ưu thế trên thị trường, thủy sản phục hồi và tăng tốc Thị trường thức ăn hỗn hợp Việt Nam được phân chia theo thành phần ngũ cốc, hạt có dầu và các chất dẫn xuất, bột cá và dầu cá, chất bổ sung và các thành phần khác và loại động vật động vật nhai lại, lợn, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và các loại động vật khác. Thức ăn gia cầm là thức ăn được tiêu thụ cao nhất trên cả nước do ngày càng có nhiều người tiêu dùng ưa chuộng thịt gà, chim cút, thịt vịt và trứng. Trong năm 2020, thức ăn cho lợn chiếm 8,9 triệu tấn, tương đương đạt tỷ lệ 43,8%; thức ăn cho gia cầm đã đạt mức 10,7 triệu tấn, chiếm tỷ lệ 53,7%; thức ăn cho các loại vật nuôi khác chiếm 0,6 triệu tấn, đạt tỷ lệ 3,0% trong cơ cấu sản lượng thức ăn chăn nuôi. Theo đánh giá của FAO, thịt gia cầm là yếu tố chính cho sự tăng trưởng của sản xuất thịt toàn cầu, do nhu cầu cao, chi phí sản xuất thấp và giá sản phẩm thấp hơn, cả trong các nước phát triển và đang phát triển. OECD đưa ra dự báo đối với thị trường gia cầm, sản lượng tiêu thụ trong 10 năm tới tại Việt Nam có thể đạt mức tăng trưởng bình quân 2,9%/năm. Xu hướng tiêu thụ gia cầm trên thực tế vẫn tiếp tục gia tăng tại nhiều quốc gia trên thế giới và nhu cầu về nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam cũng sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Theo dự báo của Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam, nhu cầu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi của Việt Nam sẽ là khoảng 28-30 triệu tấn/năm trong 5 năm tới, trị giá 12-13 tỷ USD với mức tăng trưởng trung bình 11 - 12%/năm, trong đó quá nửa sản lượng nguyên liệu thức ăn chăn nuôi 14,5-15 triệu tấn sẽ dành cho ngành gia cầm. Kết quả khảo sát của Vietnam Report đối với chuyên gia và doanh nghiệp ngành TACN về nhu cầu của một số sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong năm tới đã cho thấy có xu hướng tăng lên trong nhu cầu đối với thủy sản, lợn và gia cầm, trong đó thủy sản là phân khúc được dự đoán sẽ có tăng trưởng mạnh mẽ nhất. Thủy sản nằm trong nhóm 10 mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, và đang có sự phục hồi khá tốt sau khi giảm vào các tháng 8, 9 do giãn cách xã hội. Theo Tổng cục Hải Quan, trị giá xuất khẩu trong tháng 10 đạt 889 triệu USD, cao nhất từ trước tới nay, tăng mạnh 42,3% so với tháng 9, tương ứng tăng 264 triệu USD về số tuyệt đối. Nhu cầu thủy sản tiếp tục tăng cao tại các thị trường lớn về thủy sản của Việt Nam như Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản, sẽ thúc đẩy xuất khẩu ngành hàng này của Việt Nam và tạo cơ hội cho các doanh nghiệp chăn nuôi thủy sản cũng như sản xuất thức ăn. Hình 8 Đánh giá nhu cầu của một số sản phẩm thức ăn chăn nuôi trong năm 2022 Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 Đối với nhóm ngành thịt lợn nhu cầu được đánh giá là sẽ gia tăng trong thời tới, cộng thêm những chính sách hỗ trợ phát triển ngành chăn nuôi lợn thu hút các doanh nghiệp TACN tiếp tục mở rộng quy mô sản xuất TACN lợn. Theo Chiến lược phát triển chăn nuôi giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn 2045 của Bộ NN&PTNT, đặt ra mục tiêu đến năm 2030, tổng đàn lợn có mặt thường xuyên ở quy mô khoảng 29-30 triệu con, trong đó đàn heo nái khoảng 2,5-2,8 triệu con, đàn heo nuôi trang trại, công nghiệp chiếm trên 70%. Phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn trong sản xuất TACN Kinh tế tuần hoàn KTTH đang là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới và Việt Nam, nhất là khi đại dịch Covid-19 lan rộng đã định hình rõ hơn xu hướng đầu tư và phát triển bền vững. KTTH là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất, tiêu dùng và dịch vụ nhằm giảm khai thác nguyên liệu, vật liệu, kéo dài vòng đời sản phẩm, hạn chế chất thải phát sinh và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. Trong nền kinh tế nông nghiệp tuần hoàn gắn với tăng trưởng xanh, phụ phẩm trong nông, lâm, thuỷ sản đang được xem là đầu vào quan trọng, kéo dài chuỗi giá trị gia tăng trong nông nghiệp. Việt Nam hiện có tới 120 triệu tấn các loại phụ phẩm nông nghiệp, trong đó rơm chiếm tới 43 triệu tấn, là tiềm năng rất lớn có thể áp dụng công nghệ ủ chua, các chế phẩm vi sinh, phơi khô, hệ thống các sản phẩm và phụ phẩm từ ngành thủy sản rất lớn để có thể làm TACN. Đây là nguồn nguyên liệu TACN rất quan trọng, nếu tận dụng tốt phế phụ phẩm tại chỗ sẽ mang lại hiệu quả rất tốt cho ngành chăn nuôi nói riêng và ngành Nông nghiệp nói chung. Trong thời gian qua, Trung tâm Khuyến nông quốc gia đã đẩy mạnh dự án kinh tế tuần hoàn, sử dụng chế phẩm, phụ phẩm nông nghiệp làm thức ăn chăn nuôi và nhân rộng các mô hình cánh đồng lớn trồng bắp, sản xuất thức ăn chăn nuôi từ phế, phụ phẩm nông nghiệp. Trong thời gian tới, việc chủ động sử dụng nguồn phụ phẩm ở trong nước sẽ được đẩy mạnh hơn nữa cùng với đó là sự tăng cường đầu tư khoa học công nghệ cao để có thể phát triển được trong một số phụ phẩm. Áp dụng công nghệ số trong ngành TACN Những tiến bộ công nghệ đang được áp dụng vào sản xuất thức ăn chăn nuôi. Các nhà khoa học không chỉ xem xét cách thức công nghệ hỗ trợ sản xuất chăn nuôi bằng các kỹ thuật sinh học, hóa học, vật lý mà cả bằng kỹ thuật số. Công nghệ số sẽ cho phép giải quyết hiệu quả hơn nhiều những thách thức to lớn đang phải đối mặt hiện nay và trong tương lai đối với ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi. Blockchain là ứng dụng cho phép quản lý an toàn, với một lượng lớn dữ liệu đáng tin cậy về truy xuất nguồn gốc nguyên liệu thô, phương pháp sản xuất, bộ gen, chất dinh dưỡng. Các nhà khoa học đang bắt đầu khám phá cách lưu trữ, xử lý thông tin bằng ứng dụng AI Trí tuệ nhân tạo, cũng như tạo ra kiến thức từ lượng dữ liệu khổng lồ Big data về năng suất, sinh trắc học và sinh lý học. Việc tích hợp các dữ liệu sản xuất đó từ động vật, trang trại, lò giết mổ và ngành công nghiệp chế biến thịt sẽ cung cấp một cách tiếp cận tổng thể mới của chuỗi sản xuất, từ đó cho phép điều chỉnh nhiều hơn, điều chỉnh chính xác hơn khẩu phần ăn phù hợp với nhu cầu dinh dưỡng của động vật, và thiết lập kế hoạch cho ăn không chỉ dựa trên mục tiêu sản xuất mà còn giải quyết các khía cạnh vệ sinh, chất lượng sản phẩm, sức khỏe và tính bền vững. Kết quả khảo sát của Vietnam Report về tình hình ứng dụng công nghệ và kỹ thuật số vào quá trình hoạt động của doanh nghiệp TACN cho thấy lĩnh vực được ứng dụng nhiều nhất là hoạt động sản xuất, điều hành doanh nghiệp và hoạt động bán hàng. Các lĩnh vực giao nhận hàng hóa logistics, quản lý nhân sự, tuyển dụng còn hạn chế. Một số doanh nghiệp lớn trong ngành đã triển khai ứng dụng Big Data; Hệ thống hoạch định nguồn lực doanh nghiệp ERP; Điện toán đám mây; IOT internet vạn vật, Blockchain ở mức độ cao, trên quy mô lớn, trong khi nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa mới đang triển khai một phần trên một số ứng dụng. Top 5 giải pháp của doanh nghiệp TACN trong thời kỳ bình thường tiếp theo Khả năng thích ứng nhanh và tăng cường đầu tư, đổi mới công nghệ là chìa khóa cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trước tác động của đại dịch Covid-19. Để tạo ra những cơ hội phát triển trong thời kỳ bình thường tiếp theo, các doanh nghiệp TACN phải có sự chuẩn bị tốt cho những thách thức phía trước. Kết quả khảo sát của Vietnam Report đã chỉ ra top 5 giải pháp của doanh nghiệp ngành TACN trong thời gian tới i Nghiên cứu các sản phẩm thức ăn chăn nuôi hữu cơ, đạt tiêu chuẩn chất lượng an toàn sinh học; ii Đầu tư máy móc và dây chuyền sản xuất thức ăn chăn nuôi tự động hóa, đạt tiêu chuẩn quốc tế; iii Phát triển tổ hợp mô hình an toàn sinh học; iv Tăng cường các biện pháp quản trị rủi ro tài chính, biến động giá và chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào; v Thực hiện M&A, tăng cường quan hệ hợp tác để mở rộng chuỗi kinh doanh. So với kết quả khảo sát được thực hiện vào năm 2020, top 5 giải pháp của doanh nghiệp có thêm hai giải pháp mới được chú trọng là Tăng cường các biện pháp quản trị rủi ro tài chính, biến động giá và chất lượng nguồn nguyên liệu đầu vào; và Thực hiện mua lại và sáp nhập M&A, tăng cường quan hệ hợp tác để mở rộng chuỗi kinh doanh. Trong thời kỳ có nhiều biến động do tác động của dịch bệnh, cả doanh nghiệp và người chăn nuôi đều quan tâm đến giải pháp để tiết kiệm hơn nữa chi phí đầu vào sản xuất, trong đó giảm chi phí thức ăn chăn nuôi là mối quan tâm hàng đầu bằng việc tối đa hóa nguồn nguyên vật liệu trong nước, đa dạng hóa nguồn cung để giảm tình trạng thiếu hụt nguyên liệu. Việt Nam thường nhập khẩu ngô từ Argentina và Brazil do giá rẻ hơn và chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn của ngành chăn nuôi trong nước, nhưng khi hai nước này gặp hạn hán làm giảm nguồn cung, nhiều doanh nghiệp chăn nuôi Việt Nam cũng đã thực hiện một số giải pháp hiệu quả như tìm kiếm nguồn cung rẻ hơn thay thế như ngô Ấn Độ, Pakistan, Ukraine, Hình 9 Top 5 giải pháp của doanh nghiệp TACN trong thời kỳ bình thường tiếp theo Nguồn Vietnam Report, Khảo sát chuyên gia và doanh nghiệp ngành Thức ăn chăn nuôi, tháng 11/2021 Để hỗ trợ tốt nhất cho ngành thức ăn chăn nuôi, hạ giá thành sản xuất, cần tháo gỡ được nút thắt quan trọng nhất về giảm nguồn phụ thuộc vào nhập khẩu, chủ động nguyên liệu phục vụ cho sản xuất thức ăn chăn nuôi. Đây là vấn đề cần thực hiện trong dài hạn, Chính phủ cần tổ chức quy hoạch và phát triển nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi một cách bài bản, đồng bộ. Các chuyên gia và doanh nghiệp TACN trong khảo sát của Vietnam Report cũng đưa ra những đề xuất trước mắt với Chính phủ có thể hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi thông qua i Hỗ trợ kiểm soát chặt chẽ dịch bệnh và phát triển đàn vật nuôi ở các địa phương; ii Giảm thuế nhập khẩu nguyên liệu sản xuất; iii Hỗ trợ doanh nghiệp và nông dân phát triển tổ hợp mô hình an toàn sinh học; iv Nâng cao công tác thống kê, dự báo thị trường ngành chăn nuôi, cân đối sản lượng TACN trong nước với tốc độ phát triển của đàn gia súc, gia cầm; v Đơn giản các thủ tục hành chính để giảm chi phí, hoàn thiện hệ thống hạ tầng cảng biển, kho bãi chuyên dùng phục vụ xuất khẩu, nhập khẩu nguyên liệu và thức ăn chăn nuôi; vi Tăng cường công tác kiểm tra chất lượng thức ăn chăn nuôi. Vietnam Report
“Ăn đong” nguyên liệu, phát triển không bền vững Có rất nhiều vấn đề của ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước được các đại biểu phân tích và kiến nghị giải pháp cho Bộ NN-PTNT trong buổi tọa đàm "Giải pháp phát triển nguồn nguyên liệu, tận dụng phụ phẩm sản xuất thức ăn chăn nuôi, giảm phục thuộc nhập khẩu" diễn ra chiều tại Hà Nội. Báo cáo từ Cục Chăn nuôi cho biết, trong khoảng 10 năm qua, ngành sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp ở Việt Nam liên tục tăng trưởng bình quân từ 13 - 15%, giúp Việt Nam giữ vị trí số 1 trong khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 10 thế giới về quy mô sản xuất thức ăn chăn nuôi. Các đại biểu chia sẻ nhiều giải pháp chủ động tạo nguồn nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi trong nước CTV Nhưng trái ngược với “thành tích này”, người chăn nuôi trong nước thời gian qua đang khốn đốn khi giá thức ăn chăn nuôi liên tục tăng cao trong khi giá sản phẩm chăn nuôi sụt giảm thê thảm. Trong khi đó, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi hiện nay phụ thuộc rất lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu. Năm 2020, Việt Nam đã chi tới 6 tỉ USD để nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi nhưng giá trị xuất khẩu thịt chỉ đạt hơn 1 tỉ USD. Báo cáo từ Bộ Nông nghiệp Mỹ công bố gần đây cũng công nhận Việt Nam là cường quốc nhập khẩu ngô để phục vụ sản xuất thức ăn phục vụ ngành chăn nuôi trong nước. Mỹ dự báo năm 2021 - 2022, Việt Nam là quốc gia nhập khẩu ngô đứng thứ 5 toàn cầu. Ngành chăn nuôi bò sữa trong nước đã chủ động sản xuất tại chỗ được nhiều loại thức ăn chăn nuôi Tập đoàn TH Bình luận về những thông tin này, TS Nguyễn Thanh Sơn, Chủ tịch Hiệp hội Chăn nuôi gia cầm Việt Nam, cho rằng dù tăng tưởng mỗi năm đều ở mức 2 con số nhưng thực tế cho thấy, phải “ăn đong”, phụ thuộc vào nguồn nguyên liệu của thế giới nên đây là sự phát triển không bền vững. Nhiều năm qua, Việt Nam là điểm đến đầu tư của rất nhiều "ông lớn" trên thế giới trong sản xuất thức ăn chăn nuôi, họ liên tục mở rộng quy mô sản xuất vì nước ta đang là thị trường kinh doanh béo bở. “Giá thức ăn chăn nuôi tăng cao thời gian không hẳn chỉ là tác động của dịch Covid-19. Doanh nghiệp nước ngoài sản xuất thức ăn chăn nuôi chiếm 30% về số lượng nhưng lại nắm tới 65% thị trường và giá bán nhiều năm nay chỉ có tăng chứ không giảm. Nguyên liệu sản xuất nếu còn “ăn đong”, phụ thuộc vào nước ngoài sẽ không phát triển bền vững”, ông Sơn nói. Chuyển đổi cây trồng tạo vùng nguyên liệu, tận dụng phụ phẩm Ông Tống Xuân Chinh, Cục phó Cục Chăn nuôi, cho biết nhu cầu thức ăn chăn nuôi sử dụng rất lớn, mỗi năm từ 32 - 33 triệu tấn, trong đó chỉ có 7 triệu tấn là người chăn nuôi sử dụng phụ phẩm, nguyên liệu tự trồng để tự phối trộn và khoảng 20 triệu tấn là thức ăn công nghiệp. Trong khi đó, nguồn phụ phẩm nông nghiệp rất lớn nhưng chưa thể tận dụng được. Cụ thể, ngành trồng trọt mỗi năm có 88,9 triệu tấn phụ phẩm với nhiều loại có thể sử dụng là nguyên liệu đầu vào sản xuất thức ăn chăn nuôi nhưng hiện chỉ tận dụng được 52%. Ngoài ra, có hàng chục triệu tấn phụ phẩm ở ngành giết mổ gia súc, gia cầm, chế biến hải sản… có thể tận dụng sản xuất protein làm thức ăn bổ sung nhưng đều bị bỏ phí. Tập đoàn TH đang liên kết với hàng nghìn hộ nông dân Nghệ An trồng ngô sinh khối cung cấp nguyên liệu sản xuất thức ăn cho bò sữa Tập đoàn TH Còn theo đại diện Cục Trồng trọt, các doanh nghiệp trong nước đã quan tâm nhiều hơn đến tạo nguồn nguyên liệu thức ăn trong nước. Đặc biệt trong ngành chăn nuôi bò sữa, doanh nghiệp đã liên kết với nông dân chuyển đổi trồng ngô hạt sang trồng ngô sinh khối, cỏ chủ động thức ăn cho đàn bò và nông dân có thu nhập cao. Theo bà Hạ Thúy Hạnh, Phó giám đốc Trung tâm Khuyến nông quốc gia, đơn vị này đang đẩy mạnh dự án kinh tế tuần hoàn, sử dụng phế phụ phẩm trong nông nghiệp để làm thức ăn chăn nuôi, điển hình là rơm ủ chua nuôi bò. Tại Việt Nam, chăn nuôi nông hộ chiếm tỷ lệ rất lớn và bà con có thể tận dụng thức ăn tại chỗ, nếu tận dụng tốt phế phụ phẩm sẽ mang lại hiệu quả cho chăn nuôi. “Các nông hộ cần tận dụng diện tích để trồng ngô sinh khối hoặc trồng cỏ để làm thức ăn chăn nuôi và áp dụng các gói kỹ thuật cân đối khẩu phần thức ăn, giảm phục thuộc vào thức ăn công nghiệp”, bà Hạnh nói. Theo TS Nguyễn Thanh Sơn, nếu quyết tâm và có giải pháp đồng bộ thì không khó để từng bước giảm phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Chính phủ cần có chiến lược tổng thể phát triển nguyên liệu thức ăn chăn nuôi trong nước và đặt mục tiêu cụ thể trong từng giai đoạn, từng sản phẩm nguyên liệu đi kèm giải pháp về vốn tín dụng ưu đãi, thuế, đất đai, khoa học công nghệ... Đối với ngành nông nghiệp, ông Sơn kiến nghị "Có thể chuyển trồng một số giống lúa chất lượng thấp nhưng có năng suất cao để làm thức ăn chăn nuôi; đưa ngô sinh khối, ngô biến đổi gene vào sản xuất; tận dụng nguồn cám gạo làm nguyên liệu thức ăn; phải tăng diện tích trồng đỗ tương; ứng dụng công nghệ vào sản xuất bột cá nhạt để phát triển nhóm nguyên liệu giàu đạm trong nước…”. "Chốt” lại buổi tọa đàm, ông Tống Xuân Chinh cho biết hiện Bộ NN-PTNT giao Cục Chăn nuôi xây dựng dự thảo Đề án phát triển ngành công nghiệp chế biến thức ăn chăn nuôi giai đoạn 2021 - 2030, trong đó có giải pháp rất quan trọng là tận dụng các phụ phẩm trong nông nghiệp với khối lượng lên đến hàng trăm triệu tấn.
Thủ tục nhập khẩu thức ăn chăn nuôi Thị trường thức ăn chăn nuôi Việt Nam đang có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Trong đó, tỷ trọng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu nhập khẩu ngày càng tăng nhanh. Chủ yếu nhập khẩu phục vụ chế biến, phối trộn cho sản xuất trong nước hoặc gia công gia tăng chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, để nhập khẩu và kinh doanh nhóm sản phẩm này, doanh nghiệp cần nắm được thủ tục và quy định của cơ quan quản lý nhà nước. TTL logistics nhận tư vấn, hỗ trợ cũng như vận chuyển hàng hóa nhập khẩu. Khái quát thị trường thức ăn chăn nuôi nhập khẩu tại Việt Nam Tính đến cuối tháng 4 năm 2019, tỉ lệ nhập khẩu các mặt hàng thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu vẫn tăng. Chủ yếu từ các thị trường sau – Thị trường nhập khẩu lớn nhất là từ Argentina, với tổng giá trị nhập khẩu thức ăn chăn nuôi 91 triệu USD, chiếm hơn 30% thị phần – Kế đến là Hoa Kỳ với 54 triệu USD, chiếm 18 % thị trường – Tiếp theo là thị trường Ấn Độ, Anh, Áo, Bỉ, Brazil,… Các sản phẩm nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi chủ yếu là lúa mì, ngô, đậu tương, dầu mỡ động thực vật Tính chung trong quý I năm 2019, Việt Nam đã chi hơn tỉ USD nhập khẩu thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu. Nhu cầu của thị trường đang được đánh giá ngày càng tăng trong thời gian tới. Hình anh kho bãi thức ăn chăn nuôi Điều kiện kinh doanh thức ăn chăn nuôi Công ty, tổ chức hay cá nhân có nhu cầu nhập khẩu và kinh doanh sản phẩm thức ăn chăn nuôi cần đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau – Địa điểm sản xuất, kinh doanh phải nằm trong khu vực không bị ô nhiễm; có tường rào, ngăn cách bên ngoài – Có đầy đủ trang thiết bị, con người, nguồn lực phù hợp theo quy định của pháp luật – Có kho hoặc thuê kho phục vụ hàng thưc ăn chăn nuôi, đáp ứng được các điều kiện bảo quản đảm bảo chất lượng hàng hóa, bảo vệ môi trường và theo khuyến cáo của nhà sản xuất – Hàng hóa thức ăn chăn nuôi phải cách biệt với thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, hóa chất độc hại khác – Kho bãi bảo quản hàng hóa thức ăn chăn nuôi có thiết bị, dụng cụ để bảo quản thức ăn chăn nuôi, thủy sản theo hướng dẫn của nhà sản xuất, nhà cung cấp Thủ tục nhập khẩu hàng hóa thức ăn chăn nuôi Để nhập khẩu thưc ăn chăn nuôi, doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần thực hiện các thủ tục sau Công bố tiêu chuẩn áp dụng, kiểm dịch động vật và kiểm tra chất lượng nhà nước. 1. Công bố tiêu chuẩn áp dụng cho hàng hóa thức ăn chăn nuôi nhập khẩu Hồ sơ đăng kí công bố tiêu chuẩn cho hàng hóa thức ăn chăn nuôi Thức ăn chăn nuôi muốn được lưu hành trên thị trường Việt Nam phải được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn xác nhận phù hợp với tiêu chuẩn công bố áp dụng và quy chuẩn kỹ thuật quốc gia. Hồ sơ đăng kí bao gồm – Đơn đăng ký thức ăn chăn nuôi – Giấy chứng nhận lưu hành tự do Certificate of free sale được cấp bởi cơ quan có thẩm quyền nước xuất khẩu – Giấy chứng nhận ISO, GMP, HACCP hoặc tương đương của cơ sở sản xuất bản sao – Bản thông tin sản phẩm chi tiết. Bao gồm Tên các loại nguyên liệu, chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu an toàn, công dụng, hướng dẫn sử dụng – Bản tiêu chuẩn công bố do nhà nhập khẩu đăng ký – Nhãn phụ sản phẩm thể hiện bằng tiếng Việt – Phiếu kết quả thử nghiệm các chỉ tiêu chất lượng và an toàn sản phẩm – Mẫu nhãn của sản phẩm Trình tự giải quyết hồ sơ đăng ký thức ăn chăn nuôi Thời gian giản quyết tối đa là 20 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn có trách nhiệm thẩm định hồ sơ và ban hành văn bản xác nhận tiêu chuẩn đăng kí của doanh nghiệp. Trường hợp không ban hành văn bản xác nhận, Bộ phải trả lời doanh nghiệp bằng văn bản và nêu rõ lý do 2. Kiểm dịch động vật thức ăn chăn nuôi Một số mặt hàng là nguyên liệu làm thức ăn chăn nuôi khi nhập khẩu doanh nghiệp cần làm kiểm dịch động vật bột huyết, bột xương thịt, bột tôm, bột cá, bột lông vũ…. Trình tự kiểm dịch động vật hàng thức ăn chăn nuôi như sau Đăng kí kiểm dịch dịch động vật – Hình thức nộp online qua Hệ thống một cửa quốc gia – Bộ hồ sơ cần chuẩn bị 1 Đơn đăng ký kiểm dịch nhập khẩu theo mẫu 19, luật Thú y 01 bản scan 2 Health certificate của nước xuất khẩu 01 bản scan 3 Công văn cam kết Health 01 bản scan 4 Ngoài ra, Cục thú y có thể yêu cầu cung cấp mã số nhà máy sản xuất certificate of registration – Thời gian sau 2-3 ngày, Cục kiểm dịch sẽ ra Công văn hướng dẫn kiểm dịch Khai báo kiểm dịch động vật Sau khi Cục Thú y có Văn bản đồng ý cho Kiểm dịch và chỉ định cơ quan làm kiểm dịch lô hàng, doanh nghiệp tiến hành khai báo kiểm dịch theo hướng dẫn, nhận giấy chứng nhận kiểm dịch/chứng thư kiểm dịch. Tại bước này, doanh nghiệp cần phải khai báo bằng cả 2 hình thức online và hồ sơ giấy. Khai báo online trên hệ thống một cửa quốc gia Doanh nghiệp tiến hành khai báo thông tin theo mẫu trên hệ thống một cửa quốc gia. Đồng thời đính kèm các chứng từ cần thiết – Bill, IV của lô hàng bản scan – Health certificate bản scan – Chứng nhận mã nhà sx,…bản scan đính kèm online Nộp hồ sơ giấy tại chi cục kiểm dịch động vật Sau khi đăng kí trên hệ thống một cửa, doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ bộ hồ sơ giấy nộp tại Chi cục kiểm dịch động vật – In đơn khai báo từ hệ thống 1 cửa, ký đóng dấu – Vận đơn, Hóa đơn thương mại 1 bản chụp – Health certificate bản gốc – Văn bản đồng ý kiểm dịch của Cục thú y in từ hệ thống một cửa – Giấy báo hàng đến Lấy mẫu kiểm dịch và cấp chứng thư kiểm dịch Sau khi bộ hồ sơ được tiếp nhận, cơ quan kiểm dịch động vật cửa khẩu sẽ thông báo thời gian, địa điểm tiến hành kiểm dịch và cấp chứng thư. Có một số lưu ý ở bước này – Trong trường hợp lô hàng không phải lấy mẫu, chứng thư kiểm dịch sẽ được cấp trong vòng 1-2 ngày làm việc – Đối với lô hàng phải lấy mẫu, thời gian cấp chứng thư là 4-5 ngày làm việc. Thông thường, tần suất lấy mẫu là 5 lô lấy mẫu 1 lần 3. Kiểm tra chất lượng nhà nước cho hàng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu Mục đích kiểm tra chất lượng nhà nước cho hàng thức ăn chăn nuôi nhập khẩu là kiểm tra thực tế số lượng, khối lượng, quy cách bao gói, ghi nhãn, hạn sử dụng, xuất xứ và các chỉ tiêu ngoại quan khác của sản phẩm. Đồng thời lấy mẫu thử nghiệm để đánh giá sự phù hợp về chất lượng và an toàn thực phẩm của sản phẩm Bộ hồ sơ kiểm tra chất lượng bao gồm – Đơn đề nghị kiểm tra – Bản sao chứng thực quyết định chỉ định là tổ chức chứng nhận hợp quy lĩnh vực thức ăn chăn nuôi Thời gian sử lý là 15 ngày kể từ ngày nhận được đủ bộ hồ sơ hợp lệ TTL logistics – Đơn vị cung cấp dịch vụ giao nhận vận tải, hải quan hàng hóa xuất nhập khẩu Được thành lập từ năm 1995, TTL logistics luôn được đánh giá cao về chất lượng dịch vụ Vận tải quốc tế, hải quan xuất nhập khẩu, kho bãi, hậu cần TTL luôn cam kết đem đến giá trị tốt nhất tới khách hàng, luôn lấy sự hài lòng của khách hàng làm kim chỉ nam hành động Hãy liên hệ với bộ phận tiếp nhận hàng TTL để được tư vấn và hỗ trợ chi tiết.
nhập khẩu nguyên liệu thức ăn chăn nuôi